Sign up
Hoài Giang -

Đi tìm mộ

Viết bởi hoaigianghl | 23 April, 2008 | read_nums (163)

    ĐI TÌM MỘ ANH TÔI                                                                
                             Ghi chép 
    I/ Nỗi đau và mảnh giấy câm lặng.          
    Gần bốn chục năm đã qua, nỗi khát khao đi tìm phần mộ anh tôi - Liệt sĩ Đ... Đ... Tr... - lúc nào cũng cháy trong tôi và trong những người thân của tôi.Mẹ tôi trước khi vĩnh biệt cuộc đời, ( Mẹ vĩnh biệt đại gia đình chúng tôi vào hồi 15 giờ 20 phút ngày 09 tháng 01 năm  2007 tức 21 tháng Chạp năm Bính Tuất - hưởng thọ 93 tuổi) Người đã dặn lại tôi rằng: "Hãy cố tìm cho được phần mộ của anh con". Cái khát khao cháy bỏng ấy lúc nào cũng bị chặn lại bởi một mảnh Giấy báo tử câm lặng vô tri, vô giác với những thông tin hoàn toàn mờ mịt: Liệt sĩ Đoàn Đức Trung - Đơn vị C37 thuộc KT, hy sinh ngày 13 tháng 9 năm 1968 tại Mặt trận phía Nam. Lá thư cuối cùng anh tôi gửi từ mặt trận về gia đình đề ngày 25 tháng 4 năm 1968, trước khi anh tôi hy sinh 4 tháng 18 ngày. Lá thư mang hòm thư 44 281 BK.         
      Những ngày tháng bảy này, người ta đang rầm rộ kỉ niệm 60 năm ngày Thương binh, lịêt sĩ - ngày mà cả nước sẽ lại nhớ tới các anh hùng liệt sĩ đã hi sinh vì sự nghiệp bảo vệ tổ quốc này - Để rồi hôm sau người ta lại sẽ quên đi và lại bị cuốn hút vào guồng quay của cuộc sống với những gì vốn có của nó. Chỉ những ai có người thân bị thiệt mạng trong những cuộc chiến cam go và dai dẳng đã qua ấy sẽ mãi mãi bị nhay, bị gặm, bị nhấm nháp bởi những nỗi đau âm ỉ, nỗi đau xé ruột và cứ lặng lẽ khóc thầm mà thôi. Hình ảnh người thân yêu vẫn còn đọng mãi trong tâm tưởng, trong trí não của người đang sống. Không còn cách nào khác đành lập ban thờ, thắp nén nhang bái vọng về phương trời xa lắc ấy mà thôi.      
        Hơn ba chục năm chiến tranh đi qua rồi, những cái mà người ta gọi là những Phiên hiệu bí mật như những bức màn đen ma quỷ vẫn không được người ta giải mã, người ta vén lên; Vẫn không được người ta vứt bỏ. Nó như những dải khăn tang vẫn mãi mãi chùm lên đầu hàng triệu những người cha, người mẹ, người vợ, người con, người em trên khắp mảnh đất hình chữ S này. Đã bao lần tôi tự hỏi không hiểu vì sao người ta vẫn làm ngơ, người ta vẫn vô cảm trước những nỗi đau của đồng loại!? Ai là người phải chịu trách nhiệm trước những tội lỗi đáng nguyền rủa này? Đã bao lần tôi lần mò, tìm tòi, dò hỏi, nhưng tất cả đều là con số O - con số O tròn trịa khép kín mang đầy bí hiểm và quái đản. Tất cả đều là những cái lắc đầu và những con mắt vô cảm của những người trẻ tuổi có chức, có quyền và được gọi là "đồng chí" ấy. Tôi đành bất lực và tự biện hộ cho những sự câm lặng ấy rằng: Những đồng chí ngày xưa vì điều kiện bí mật của chiến tranh mà sinh ra những kí hiệu KT, HA, XT, những Mặt trận phía Nam, phía Tây ... ấy đều đã hi sinh cả rồi; Họ đã vĩnh viễn mang theo những bí mật ấy xuống nấm mồ của họ rồi. Họ đã để lại nỗi đau vô tận của những con người còn đang phải sống trên cõi đời này. Vì họ mà biết bao người đang sống không làm sao mà biết được người ruột thịt của mình đã vùi thân, gửi xác ở nơi đâu trong mảnh đất hình chữ S này!? Họ không có lỗi - những người đã sản sinh ra những phiên hiệu ấy - tôi thấy là như vậy, bởi vì họ cũng đã phải vĩnh viễn không bao giờ được trở về với gia đình, cha mẹ, vợ con và những người thân của họ. Sẽ là có tội nếu ta oán giận họ. Thôi cũng đành chấp nhận để họ mang theo những bí mật, những KT, những HA, những XT, những Mặt trận phía Nam, phía Tây ấy mà gói gọn trong mớ hành trang lạnh lẽo và nghèo nàn của họ để đi về cõi vĩnh hằng.       
        Tôi đã xem nhiều chương trình truyền hình nói về những nhà Ngoại cảm, những nhà Tâm linh. Xem biết bao băng, đĩa về Bộ môn Cận tâm lý và Tiềm năng con người. Tôi đã đọc nhiều cuốn sách nói về những điều thần bí mà ngày xưa khi còn cắp sách tới trường, nhà trường Xã Hội Chủ Nghĩa đã dạy chúng tôi rằng đó là những kẻ Cuồng tín, những kẻ Mê tín dị đoan, những Kẻ mê muội, kẻ Đồng cô bóng cậu không hiểu biết gì về Chủ nghĩa Duy vật Biện chứng. Giờ đây khi có biết bao điều mà Chủ nghĩa Duy vật không còn giải thích được thì những "kẻ" kia lại được tôn sùng, được coi là những Siêu nhân - Tôi thầm gọi họ là những đấng Cứu nhân Độ thế - Bởi họ đã đem lại những gì mà người đời mong đợi. Chí ít ra thì họ cũng đem lại sự an ủi cho những con người bất hạnh đã từng khổ đau vì mất mát người thân trong cuộc chiến. Cho dù sự thật chỉ là tinh thần, bởi vì người thân của họ chỉ còn là một nắm xương tàn, một dúm đất đen ướt át không hề còn đọng lại sự lợm tanh của mùi máu thịt. Tất cả những gì còn lại ấy được đặt trong chiếc tiểu sành, được phủ lá cờ Tổ Quốc. Chỉ có Trời mới biết được ngững gì nằm trong chiếc tiểu sành khô khốc kia có phải là máu là thịt của người thân yêu hay không!?  Tôi mơ ước làm sao mình có cơ may mà gặp được những Đấng Cứu nhân Độ thế ấy. Cho dù không dễ gì mà gặp được, nhờ cậy được những Báu vật của Quốc Gia ấy. Tôi vẫn mơ, vẫn hy vọng sẽ có ngày anh trai tôi sẽ được nằm trong một chiếc tiểu sành khô khốc có phủ lá cờ đỏ sao vàng năm cánh của Tổ Quốc mà anh tôi đã trọn đời hy sinh thân mình để bảo vệ.  

    II/ Nhà ngoại cảm, nấm mồ chôn chung và những thùng chất độc màu da cam.          
    Tôi bị mê muội, bị đắm chìm, đầu đau dữ dội. Tôi viết thư liên tiếp gửi tới các bạn bè đồng nghiệp của tôi ở các tỉnh trong Nam - Trong cái gọi là Mặt trận phía Nam ấy - Mặc dù những đồng nghiệp ấy tôi chưa hề biết mặt, chưa hề biết tên. Tôi cứ gửi liều như vậy. Hy vọng và hy vọng hồi âm sẽ đến với tôi. Không ít anh chị em đồng nghiệp ở các tỉnh trong Nam đã gọi điện cho tôi thông báo việc họ đã đi tìm hồ sơ về anh trai tôi. Tôi bồi hồi mỗi khi thấy số điện thoại lạ gọi đến cho tôi. Tôi càng hồi hộp hơn khi nghe những giọng nói từ nơi xa xôi ấy. Từ  huyện Thới Bình tỉnh Cà Mau, chị Phượng đã gọi điện cho tôi. Qua Phượng tôi hiểu rằng các anh chị em ở Cà Mau đã photocopi thư của tôi để gửi đi các huyện trong tỉnh Cà Mau. Phượng nói với tôi rằng ở Thới Bình không có tên anh tôi trong các Nghĩa trang liệt sĩ. Phượng không quên nhắc đến cô Năm Nghĩa - Năm Khùng - ở ấp Bắc Hai, xã Hoà Long, thị xã Bà Rịa Vũng Tàu, nằm bên phải Quốc lộ 56, cách cổng Bà Rịa chừng 7 km. Năm Nghĩa chỉ tìm mộ liệt sĩ chứ không tìm mộ cho người nào khác; Năm Nghĩa không đòi hỏi thân nhân liệt sĩ bất kỳ điều gì ngoài những văn bằng được Nhà nước công nhận người đã mất là Liệt sĩ (đấy cũng là điều lạ của một vĩ nhân - các vĩ nhân thương hay có những điều kì dị). Rất nhiều người đăng ký nhờ cô Năm tìm người thân là liệt sĩ. Phải đăng ký lâu lắm mới đến lượt. Giờ đã có tới bốn năm ngàn gia đình gửi hồ sơ đến cậy nhờ Năm Nghĩa tìm mộ người ruột thịt của họ rồi và số liệt sĩ Năm Nghĩa đã tìm được cũng lên tới con số hàng ngàn rồi.  Tôi thầm nghĩ nếu tôi gửi hồ sơ tới Năm Nghĩa ngay bây giờ thì cũng phải chừng năm đến mười năm nữa mới tới lượt. Khi ấy tôi đã về hưu được khá lâu rồi. Khi ấy không biết tôi có còn đủ sức khoẻ để đi tìm anh tôi không!?          Tôi nhận tin nhắn từ Đồng Nai của Th - Th là đồng nghiệp với tôi công tác tại Đồng Nai. Th hứa sẽ chuyển giúp hồ sơ của anh tôi đến cô Năm Nghĩa. Tôi mừng quá gọi cho Th và hứa sẽ gửi ngay hồ sơ của anh tôi tới Th. Ngay trưa hôm đó tôi gửi phát nhanh hồ sơ anh tôi cho Th. Tôi gửi kèm cả một lá thư cho cô Năm Nghĩa. Tôi không ngờ vận may lại đến với tôi nhanh đến như vậy. Cơ hội để tôi tìm được anh tôi sẽ là sự thật. Tôi mơ thấy anh tôi nằm trong chiếc quan tài nhỏ có phủ lá cờ Tổ quốc - Tổ quốc mà anh tôi đã chiến đấu, hy sinh trọn cuộc đời mình để bảo vệ. Tôi sợ hãi không dám nghĩ đến phần thịt xương còn lại của anh tôi được gói cẩn thận, đặt nằm trong chiếc quan tài ấy. Vì đã bốn mươi năm qua đi rồi, kể từ ngày anh ngã xuống. Tôi chỉ thấy trào lên trong ngực mình cơn đau nghẹn thắt lại. Nước mắt tôi đã chảy khi nghĩ về những kỉ niệm thưở ấu thơ của anh em tôi. Tôi mơ thấy anh em tôi được nằm ôm nhau ngủ như ngày nào. Tôi mơ thấy anh và tôi cùng ngồi ăn vội vàng bát cơm nguội để kịp giờ đi học. Tôi mơ thấy anh và tôi đang gánh ngô, gánh sắn từ trên nương về nhà. Tôi nghe những bước chân chắc nịch của anh. Tôi đã mơ, đã mơ và đã mơ về anh nhiều lắm...và tôi đã khóc, khóc rất nhiều khi nghĩ về sự thiệt thòi mà anh phải gánh chịu. 
             Ba ngày sau Th báo đã nhận được thư tôi gửi và đã nhờ người quen đưa cho cô Năm Nghĩa.  
             7 giờ 45 phút ngày 29 tháng 8 năm 2007. Tôi nhận được điện thoại của chị H (người quen của Th - người đưa thư và Giấy báo tử của anh tôi tới Năm Nghĩa). Chị H cho tôi biết đã đưa thư và hồ sơ của anh tôi cho cô Năm Nghĩa. Cô Năm đang đọc thư của tôi. Thật vui mừng khi Năm Nghĩa - Đấng cứu nhân độ thế - đồng ý nói chuyện với tôi. Năm Nghĩa đã hẹn rằng: Anh hãy chuẩn bị thật nhanh, ngày nào được, cô Năm sẽ báo và phải vào gấp để gặp liệt sĩ. Việc có thành hay không cô Năm chỉ chiếm bốn mươi phần trăm, còn lại sáu mươi phần trăm là ở lòng thành và độ tin tưởng của người thân liệt sĩ đối với việc làm của nhà ngoại cảm. Tôi nghĩ chắc chắn việc cô Năm tìm mộ anh tôi sẽ thành công một trăm phần trăm. Bởi vì cô Năm là người nổi tiếng cả nước này về cái tâm, cái đức trong việc đi tìm mộ đồng đội. Đài truyền hình biết bao lần đã phát sóng những chương trình nói về cô Năm Nghĩa. Tôi nghe nói Chủ Tịch Hồ Chí Minh cũng đã từng nhập phần hồn của mình vào thân xác cô Năm tại Đá Chông (K9). Biết bao người đã có mặt trong lần nhập hồn ấy, trong đó có cả những vị đeo quân hàm tướng của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Có lẽ cô Năm phải là một cỡ cao nhân, đức cao vọng trọng lắm mới được vị Lãnh tụ vĩ đại, vị Thánh nhân của dân tộc Việt Nam, một nhà Cộng sản lỗi lạc của giai cấp vô sản thế giới này uỷ thác phần hồn của mình vào đó để mà nói biết bao điều cơ mật, biết bao điều hệ trọng về dân, về nước như vậy. Thật là phúc đức cho gia đình tôi biết chừng nào. Tôi chưa hết bàng hoàng thì 10 giờ 45 phút lại nghe tín hiệu điện thoại của H. H báo rằng tôi phải vào gấp để ngày kia (31/8/2007) gặp cô Năm. Cô Năm hẹn sẽ cho gặp anh tôi nhanh như vậy chắc hẳn rằng cô đã thấu hiểu nỗi đau của gia đình tôi. Tôi vừa mừng vừa tủi, nước mắt lưng tròng. Tôi vội vàng thu xếp hồ sơ, bàn giao công việc, thông báo cho những người thân yêu của tôi biết việc đại sự đó. Thời gian quá gấp, tôi lo không đến kịp Bà Rịa Vũng Tàu. Tôi sẽ đi một mình vào Bà Rịa Vũng Tàu để gặp Năm Nghĩa. H Đ cháu gái tôi đã mua vé máy bay vào Sài Gòn cho tôi. Cháu mua cả vé khứ hồi vì sợ tôi vất vả khi trở ra Bắc sau khi mọi việc hoàn tất. Tôi hiểu công việc này ngoài tôi ra không ai trong số anh chị em của tôi có thể làm được. Bởi vì tôi là em út. Tôi trẻ nhất trong số mấy anh chị em tôi. Bởi vì chỉ có tôi đã từng sống và hiểu nhiều nhất về anh trai tôi mà thôi. Chỉ có tôi mới có nhiều điều thầm kín và bí mật của một thời thơ bé xa xưa ấy mà thôi. Anh và tôi sẽ có biết bao điều để nói, để hỏi, để dãi bày. Nước mắt tôi tuôn trào khi nghĩ đến giây phút anh em tôi gặp nhau. H - vợ tôi - đã khóc thương tôi phải một mình đi thực hiện sứ mệnh lịch sử này. Em muốn đi cùng tôi nhưng hoàn cảnh gia đình tôi lúc này em làm sao đi được. Tôi chuẩn bị hành trang gọn nhẹ. Băng ghi hình, phim ảnh dư thừa khối lượng cần ghi. Bức ảnh anh tôi được cất kỹ trong chiếc cặp số. Tôi tắm rửa, rồi thắp hương trước ban thờ của gia đình tôi. Tôi cầu khấn Trời Phật, ông bà, tiên tổ, cha mẹ và anh tôi hãy phù hộ độ trì cho tôi lên đường được bình an, tìm được phần mộ anh tôi và đưa anh tôi về với quê cha đất tổ. Tôi hốt hoảng và lo sợ thật sự khi cả 9 lần xin đài âm dương đều không được. Tôi lo quá, mọi việc như đã được định đoạt một cách hoàn toàn thuận lợi và thông đồng bén giọt. Vậy mà tổ tiên, ông bà, cha mẹ, các anh tôi và cả con trai tôi đều như báo trước cho tôi có một điều chẳng lành. Vợ tôi nghe tiếng tôi xin đài mãi, khi thấy tôi bất lực từ phòng thờ đi ra. Em hỏi: Anh xin không được à? Tôi buồn bã lắc đầu. Tôi xuống rửa mặt nhằm định thần lại trước những gì đã sảy ra. Vợ tôi vào phòng thờ. Tôi nghe lách cách tiếng đồng xu cổ rơi trên đĩa. Tôi thấy vợ đi ra, vẻ mặt buồn vì xin âm dương không hề được. Tôi quyết định thắp hương các cụ và xin lại một lần nữa trước khi ra đi. Lần này tôi chỉ xin các cụ phù hộ cho tôi lên đường an toàn, đi tới nơi về tới chốn mà thôi. Kỳ lạ thay, chỉ một lần xin đài thôi đã được ngay. Tôi thầm nghĩ về kết quả của chuyến đi này chắc rằng sẽ không được như tôi mong đợi. Sự tài giỏi của Năm Nghĩa liệu có làm đảo ngược được những điều tôi đã nghĩ hay không, tôi không thể nào biết được. Thôi thì cũng đành cất bước theo số phận đã được định đoạt mà thôi! Trong tôi vẫn nghe văng vẳng lời nói: Việc có thành hay không cô Năm chỉ chiếm bốn mươi phần trăm, còn lại sáu mươi phần trăm là ở lòng thành và độ tin tưởng của gia đình liệt sĩ đối với việc làm của các nhà ngoại cảm!      

        Tới nửa đường về Hà Nội, tôi nhận điện cháu V thông báo cháu sẽ đi cùng vào Nam để tìm mộ anh tôi. Tôi mừng rơi nước mắt, thế là tôi không phải lẻ loi một mình đi tìm anh tôi nữa. Đêm nay V sẽ ra Hà Nội. Chừng 4 giờ sáng mai 30 tháng 8, V tới Hà Nội. Hai cậu cháu sẽ cùng ra sân bay. V đã mua vé máy bay và sẽ bay chuyến 6 giờ 30 phút sáng mai 30 tháng 8 năm 2007. Còn tôi sẽ bay lúc 8 giờ 05 phút. Hai cậu cháu sẽ gặp nhau tại sân bay Tân Sơn Nhất khi chuyến bay của tôi hạ cánh.   

            Bốn giờ sáng 30 tháng 8, V tới Hà Nội. Hai cậu cháu gọi Taxi đến phố Quang Trung để ra sân bay Nội Bài. Buồn quá anh chàng lái Taxi là một tay lính mới chưa thuộc đường Hà Nội. Tôi chỉ đường cho cậu ta mà cậu ta cứ vừa đi vừa điện về trung tâm để hỏi đường. Đến bến xe đón khách ra sân bay thì xe đã chạy rồi. Hai cậu cháu đành gọi Taxi khác để đi Nội Bài. 

              V bay lúc 6 giờ 30 phút. Tôi  có chụp được hình chiếc máy bay chở V khi cất cánh. Tôi bay chuyến bay số VN213, số ghế 46K của Hãng hàng không Vietnam Airlines. Vậy là đã tròn 30 năm qua rồi, hôm nay tôi mới lại đi máy bay. Năm 1977 tôi có đi công tác tại tỉnh Vĩnh Long. Ngày ấy sân bay còn ở Gia Lâm. Chuyến đưa tôi vào là chiếc máy bay DC6, bay ở độ cao 4.000 mét. Trở ra bằng máy bay IL18, bay ở độ cao 6.000 mét. Ba mươi năm qua đi rồi, Hàng không Việt Nam nhiều thay đổi quá. Máy bay hiện đại hơn, sân bay hiện đại hơn. Dưới kia mây trắng bồng bềnh trôi. Mây trắng như những núi bông khổng lồ cứ lướt nhanh, lướt nhanh...

              Hai cậu cháu tôi gặp nhau ngoài phòng đợi của sân bay Tân Sơn Nhất. Hỏi tuyến xe Buýt đi Đồng Nai theo chỉ dẫn của Th thì thấy khó đi quá, phải tăng bo đổi xe hoặc đi xe ôm. Hai cậu cháu lại quyết định đi xe Taxi đến nhà Th. Lại vớ được anh lính xế không thuộc đường. Đi bò ra đường. Vừa đi vừa hỏi. Cuối cùng cậu cháu tôi cũng tìm được đến nhà cô H (người đưa thư). Hai cậu cháu kiếm quán cơm bụi, ăn qua quýt cho xong bữa. Mọi người đón cậu cháu tôi rất nhiệt tình và thân thiện (hầu như bà con ở đây đều là người miền Bắc vào sau giải phóng, duy có H anh rể của Th là người Quảng Bình). Tôi thấy bối rối trước sự nhiệt tình của mọi người. Tôi không tìm đâu ra sự không bình thường trong cách đón tiếp thịnh tình này. Mọi người đều rất thật lòng. Không ai đòi hỏi điều gì. Tối đó, để đỡ phiền hà và tránh gây đảo lộn cuộc sống của mọi người, hai cậu cháu thuê nhà nghỉ. Gia đình chị gái Th mời cơm chúng tôi. Từ chối không được, đành chấp nhận tới ăn cơm. Thuỷ là một phụ nữ còn rất trẻ, gầy mảnh. Hai con Thuỷ còn bé, cháu gái lớn học lớp bốn, cậu con trai bé học mẫu giáo. Chồng Th đang đi học nâng cao tận Sài Gòn. Chị gái lớn của Th là H, giáo viên dạy ngoại ngữ trường Trung học phổ thông. Vợ chồng anh chị P và H (người Thái Bình) là hàng xóm của chị gái Th (người đưa thư). Anh Ph cũng là lính nhiều năm chiến đấu trong Nam. Anh và vợ là người tâm huyết trong việc tìm liệt sĩ.  

            Sáng hôm sau 31 tháng 8. Cô H đã bố trí cậu cháu tôi đi nhờ xe của một gia đình cũng xuống Bà Rịa gặp cô Năm Nghĩa để tìm người thân là liệt sĩ. Chúng tôi đi từ 5 giờ sáng để kịp đến Bà Rịa trước giờ làm việc của cô Năm. 

             Tất cả đều đúng như những điều đã được nghe nói, được xem trên đài truyền hình. Bên con đường 56, khu nhà của Năm Nghĩa nằm phía bên phải con đường. Hai lá cờ đỏ sao vàng lất phất bay trong gió sớm. Chúng tôi xuống xe. Cùng đi từ Đồng Nai xuống nhà cô Năm còn có hai chiếc xe nữa. Bảy gia đình cả thảy. Đã có một số người ở thành phố Hồ Chí Minh lên từ sớm đang ngồi đợi rồi (họ cũng đều là dân Bắc đi tìm liệt sĩ như cậu cháu tôi). Theo H nói, hôm nay là ngoại lệ. Cô Năm chỉ làm riêng cho nhóm Đồng Nai xuống thôi. Tôi gai người khi nghe tiếng nhạc bài Chiêu hồn tử sĩ từ dàn loa nhà cô Năm phát ra. Cái cảm giác này lần đầu tiên có ở tôi đó là vào tháng 9 năm 1969. Khi ấy tôi là sinh viên năm thứ 2 của trường Đại học Xây dựng. Tôi lặng lẽ đi trong mưa, giữa đoàn người dài như vô tận, lầm lũi lê bước trong nỗi đau đến nát lòng để vào Hội trường Ba Đình viếng Bác Hồ. Tiếng nhạc buồn ấy tôi không thể nào quên được. Giờ đây trước vong linh các anh hùng liệt sĩ, trong tôi lại dội về cái cảm giác ấy. Không biết đã có bao nhiêu vong linh anh hùng liệt sĩ đã tề tựu về đây, quanh khu nhà nhỏ này? quanh khu vườn rợp bóng cây xanh này? Trong số các anh, các chị ấy có anh trai của tôi không? Tôi thầm ao ước mình có một khả năng siêu phàm như những nhà ngoại cảm để có thể nhìn thấy anh tôi, dù chỉ một lần thôi. Tôi lặng lẽ ngồi im lặng, mắt nhắm nghiền để tập trung trí não hướng về cõi hư vô. Tôi không cảm nhận được điều gì ngoài tiếng nhạc buồn của bài Chiêu hồn tử sĩ vẫn vang lên đều đều chầm chậm. Thỉnh thoảng lại ào lên tiếng động cơ ô tô, xe máy chạy trên đường mà thôi. Tôi đã nghe biết bao huyền thoại về cô Năm mà người đời truyền cho nhau rằng: Hàng đêm Năm Nghĩa vẫn tỉnh giấc ra phòng ngoài - phòng thờ các anh hùng liệt sĩ - để hát, để nói chuyện, để nhảy múa cùng các anh. Năm Nghĩa nằm ngủ ngon lành bên những gói hài cốt liệt sĩ mà không hề sợ hãi gì. Năm Nghĩa một mình vào rừng tìm mộ theo lời chỉ dẫn của vong linh các liệt sĩ. Năm Nghĩa không dám đào bằng cuốc, bằng xẻng mà chỉ dùng tay bới đất vì sợ làm đau các anh, các chị... 

             Có lẽ do tôi từ xa vào, được cô H giới thiệu và lại được gặp cô Năm qua điện thoại từ trước nên hồ sơ của anh tôi được xếp trên cùng. Số gia đình đến để gặp liệt sĩ khá đông. Mọi người ngồi kín vỉa hè, ngồi đầy hai dãy ghế băng dưới sân. Cô Năm ngồi ghế tựa, trước một chiếc bàn làm việc. Trên bàn để một chiếc đài Catsetre có ổ ghi băng. Một chồng hồ sơ về các liệt sĩ để trước mặt cô Năm. Chiếc ghế tựa đặt phía đầu bàn để dành cho liệt sĩ ngồi. Một chén nước để trên bàn (nước dành cho các liệt sĩ uống). Chúng tôi ngồi bệt cả xuống vỉa hè lát đá hoa. Ai cũng trong tâm trạng căng thẳng đợi chờ.Cô Năm đọc một vài câu cầu khấn từ Trời Phật đến chủ tịch Hồ Chí Minh, tới các anh hùng liệt sĩ. Tiếp đó là danh sách các liệt sĩ có gia đình đến tìm gặp. Tên anh trai của tôi được đọc đầu tiên. Ngồi bên cạnh tôi là cháu V. V cứ sụt sùi mãi không thôi. Bức ảnh anh trai tôi được V để ngay ngắn trước mặt. Tôi hiểu cháu tôi xúc động lắm trước giờ phút thiêng liêng này. Ngày anh tôi ra đi thì V đâu đã ra đời. Trong số tất cả các cháu và các con của tôi nữa, khi anh tôi ra đi duy nhất mới chỉ có cháu V Thị Th H - chị gái của V sinh năm 1965 - đứa cháu gái đầu tiên của cả gia đình. Anh tôi quý cháu lắm. Mùa hè 1966 trước khi lên đường anh sang tận huyện Phục Hoà tỉnh Cao Bằng (Vợ chồng chị gái của tôi sống ở Phục Hoà) để chơi với  anh chị và cháu. Anh trai tôi luôn mồm gọi cháu Th H là: "Con bồ câu trắng của cậu! Không khi nào cậu quên cháu được đâu con bồ câu trắng ạ!". Các cháu tôi và cả các con tôi sau này anh tôi đều không hề biết mặt. Tình cảm của V và của các con, cháu tôi đối với anh trai tôi có được là do sự tác động của mỗi gia đình anh chị em chúng tôi. Có lẽ cuộc sống của những con người đã mất, nhất là của các anh hùng liệt sĩ không giống như sự sắp đặt thứ tự vai vế quan chức to nhỏ và lính tráng như ở cõi trần gian đầy tội lỗi và quái đản này. Tôi không tìm thấy ai kể ra chức tước, quân hàm, cấp bậc to nhỏ để mà vênh vang, mà chen chúc, mà xô đẩy được đứng lên trước. Tôi cũng không thấy ai kể lể công lao, chiến tích, học vị, hàm vị để mà hù doạ lẫn nhau như ở cõi trần gian này! Ngay cả sự sắp đặt thứ tự của người trần cũng không bắt họ phải làm theo. Cô Năm bỗng ngáp liên tục, vẻ mặt tỏ ra rất mệt mỏi. Rồi cô như bừng tỉnh nhìn về phía chiếc ghế để trống. Cô nói chuyện với vong linh liệt sĩ vừa đến. Liệt sĩ đầu tiên về nói chuyện với cô Năm và gặp gia đình không phải là anh tôi mà là người khác. Những tiếng khóc, tiếng nấc của người thân khi nói chuyện với người ruột thịt đi từ cõi vĩnh hằng trở về. Tất cả những gì liệt sĩ nói ra (Qua nhà ngoại cảm) đúng sai chỉ có người trong cuộc mới rõ mà thôi. Hai gia đình được gặp người thân trước tôi đều hết sức xúc động và ghi nhận sự thật những điều mà người ruột thịt của họ đã nói. Cô bé gái cũng chừng tuổi con gái tôi đi tìm gặp ông ngoại. Ông trở về chỉ nói với cháu đôi điều. Tôi bắt đầu thấy lạ lùng về mặt tình cảm của những người đã khuất. Phải chăng sự mất mát, sự đau đớn của vết thương trong chiến đấu đã làm các anh khô cứng, thô ráp đi, tình cảm không còn sâu nặng như người đời vẫn nói tình cảm máu mủ ruột rà, máu loảng còn hơn nước lã. Nếu nhận ra đó là đứa cháu ngoại của mình thật sự rồi thì làm sao người ông ngoại liệt sĩ ấy lại không hề vỗ về an ủi đứa cháu gái tội nghiệp cất công hàng ngàn cây số từ miền Bắc vào tìm ông. Người ông chỉ nói với cháu về sơ đồ vườn tược, nhà đất của gia đình, từ cây sung, cây duối bên bờ ao đến con đường vào làng. Cô cháu gái bé bỏng chỉ biết gật đầu công nhận vì có những điều ông ngoại nói cô có thể và không thể biết được. Cô bé xin ông ngoại tha tội cho mẹ vì mẹ cô yếu không thể vào gặp ông được. Nước mắt và chỉ có nước mắt rơi tràn trên khuôn mặt cô bé khi ông ngoại của cô đã trở về với cõi hư không.

    Anh tôi đến. Cô Năm và anh tôi nói chuyện với nhau. Tất cả những trao đổi của hai người, tôi chỉ nghe được một vế đó là lời nói của cô Năm Nghĩa mà thôi. Dù như vậy tôi cũng đủ hiểu toàn bộ câu chuyện giữa hai người. Anh tôi vào Nam năm 1967. Đơn vị chia tay nhau ở Cầu Lầy Kon Tum (Điều này tôi nghe anh Lưu người ở Trùng Khánh nói. Anh Lưu đánh nhau tại ĐăkTô Tân Cảnh và tôi đã nói với cô Năm điều này để cô Năm hỏi anh tôi cho rõ). Anh tôi nói anh tôi cũng chiến đấu ở ĐăkTô chứ không đi đánh nhau ở đâu cả! (Như vậy là trái với những gì mà một đồng đội của anh đã nói về mặt trận anh tôi chiến đấu và cái chết của anh. Điều này tôi hoàn toàn giữ bí mật, không tiết lộ ra với cô Năm và nhiều người khác) Anh tôi nói về làng ĐăkTrăng (Hai người hỏi đi hỏi lại nhau rất kỹ về địa danh này), nói về trận đánh năm 1967 ở cứ điểm ĐăkTrăm. Anh tôi kể rất kỹ về đỉnh SẹcLy tại ĐăkTô. Kể về tên ác ôn khét tiếng Nguyễn Văn Bình trên đỉnh SẹcLy. Tên Bình bắt được nhiều trinh sát của quân ta. Hắn đều trói các anh lại bằng đây điện, dây dù rồi đào hố chôn sống các anh. Người ta đã khai quật được một hố chôn tập thể gồm 27 người. Hai mươi bảy chiến sĩ trinh sát  mình trần trụi bị dây điện trói giằng vào nhau. Các anh ôm nhau trong giờ phút lâm chung. Tai tôi như vẳng nghe tiếng các anh đang hát bài vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh. Bản hợp xướng ấy cứ nhỏ dần, nhỏ dần, chỉ còn lại tiếng gầm gào của chiếc xe ủi lấp đất và tiếng cười man rợ của tên ác ôn Nguyễn Văn Bình mà thôi. Người ta tìm thấy các anh nhờ công của những người dân đi bòn mót sắt vụn để kiếm bát cơm manh áo. Quân đội, Nhà nước có biết bao phương tiện dò tìm hiện đại, vậy mà không hiểu sao lại không tìm các anh!? Đơn vị cũ của các anh ở đâu mà không đi tìm các anh!? Người ta biết các anh đã hy sinh rồi chứ đâu phải các anh đầu hàng quân giặc. Sự bí mật của các trận đánh vẫn được các anh im lặng mang theo xuống nấm mồ chôn chung ấy kia mà. Vậy thì tại sao không ai đi tìm các anh!? Tại sao lại phải để những người dân nghèo với những phương tiện dò tìm đơn giản đi tìm sắt vụn tìm ra các anh? Ai có thể trả lời cho tôi điều đó? Đây là sự vô trách nhiệm của những người đang sống hay cái lập luận về sự ra đi của tất cả đơn vị các anh, sự xoá sổ toàn đơn vị nên không còn ai biết về các anh nữa!?Anh tôi kể về những kho hoá chất, những thùng chất độc màu da cam còn đang nằm lăn lóc trên đỉnh SẹcLy. Anh tôi kể về những hố chôn tập thể đồng đội của anh còn nằm trên đó. Anh lo không ai đưa các anh ấy về nghĩa trang liệt sĩ. Anh lo cho đồng bào mình bị nhiễm độc do uống nước từ suối chảy trên đỉnh SẹcLy xuống. Trên đỉnh SẹcLy mỗi khi mưa xuống nắng lên mùi hoá chất bốc lên nồng nặc, cay sè cả mắt. Anh tôi kể nhiều về cuộc chiến đấu, về đồng chí, đồng đội của anh. Anh tôi khẳng định ngày anh ra đi là ngày 21 tháng 7 năm Mậu Thân tức là ngày mồng 2 tháng 9 năm 1968 chứ không phải ngày 13 tháng 9 năm 1968 như giấy báo tử đã ghi. (Tôi yên lặng gật đầu để anh tôi khỏi tự ái, vì người ta nói rằng chiều như chiều vong. Tôi biết rằng anh tôi đã nhầm (hoặc nhà ngoại cảm nhầm). Ngày 2 tháng 9 năm 1969 mới trùng vào ngày 21 tháng 7 năm Kỉ Dậu - là ngày chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Anh trai tôi hy sinh ngày 13 tháng 9 năm 1968 trùng vào ngày 21 tháng 7 nhuận của năm Mậu Thân. Ngày ra đi của anh tôi và Hồ Chủ Tịch trùng nhau vào ngày và tháng âm lịch  chứ không trùng vào ngày dương lịch.)Trong tôi chợt nhói lên nỗi đau, sự hờn giận của một đứa em trai sau bốn chục năm lặn lội tìm gặp được người anh ruột của mình. Tôi cũng đã từng là người lính, đã từng cầm súng trong cuộc chiến tranh ấy. Tôi lại không thể lý giải được sự lạ lùng ở anh tôi. Vừa nghe những lời anh nói (qua cô Năm Nghĩa) tôi vừa tự hỏi: Phải chăng quân đội đã dạy  -  dạy đến cả vong linh -  những người lính trở nên khô cứng như thế này sao!? Phải chăng do sự bức xúc của cuộc chiến mà tâm hồn anh tôi trở thành khô khan đến khó hiểu như vậy sao? Tôi vẫn nghe nói âm sao dương vậy. Vậy mà trong cuộc gặp gỡ này của anh em tôi có điều gì đó làm tôi khó hiểu. Anh em tôi sống với nhau từ thưở tôi lọt lòng mẹ. Chúng tôi chẳng rời nhau bao giờ. Biết bao điều thầm kín giữa hai anh em. Biết bao kỉ niệm đẹp giữa anh em tôi. Biết bao tình cảm sâu nặng giữa anh em tôi. Biết bao hình ảnh của người thân trong gia đình tôi bây giờ đã đi đâu trong trí nhớ của vong linh anh tôi!? Ngay cả đến điều tưởng như không thể nào, không bao giờ quên được cho dù có phải xa rời cuộc sống của dương thế này thì anh chị em chúng tôi cũng không thể quên được. Đó là cái âm ngữ của anh chị em chúng tôi gọi cha mẹ - người đã sinh thành ra chúng tôi - như thế nào. Vậy mà anh tôi đã thay vào đó là từ "Bố mẹ". Cái từ "Bố mẹ" ấy không hề và không bao giờ có trong anh em chị chúng tôi ngày còn ở nhà! Ngay trong những lá thư anh tôi gửi về gia đình cũng không hề có cái âm ngữ "Bố mẹ" vậy thì hà cớ gì giờ đây trong vong linh anh lại dùng cái từ lạ hoắc đó!? Anh tôi không hề hỏi gì về các anh chị em trong gia đình. Không hề nhắc đến tên một người nào trong gia đình. Ngay cả khi cháu V hỏi về cái tên mà anh tôi ngày ra đi đã gọi bé Th H là gì thì anh cũng không còn nhớ được. Anh bảo: " Lâu quá, cậu quên mất rồi ". Bốn chục năm qua đi kể cũng là rất lâu. Tôi không dám trách anh tôi về sự quên đó, nhưng cái tên ác ôn khét tiếng Nguyễn Văn Bình trên đỉnh SẹcLy ấy thì sao anh tôi lại nhớ đến vậy!? Phải chăng sự căm thù đã lấn át tất cả tình cảm của anh tôi. Đến nỗi cái tên của những người thân yêu trong gia đình, anh tôi cũng không còn nhớ được nổi lấy một người. Trời ơi! tôi tự giận mình tại sao tôi lại không thể có được khả năng siêu phàm để mà nhìn thấy hình hài anh tôi đang hiển hiện trước mắt tôi, để mà nghe thấy những gì anh tôi đang nói!? Nếu sau này tôi có theo các cụ về với tiên tổ, anh em tôi gặp nhau nơi chín suối. Khi ấy tôi sẽ hỏi anh tôi cho ra nhẽ về cuộc gặp gỡ lịch sử ngày 31 tháng 8 năm 2007 (19 tháng 7 năm Đinh Hợi) này. Hỏi về sự quên lãng đến lạ kỳ của anh tôi. Ngay cả kỷ vật mà mẹ đưa cho anh, anh cũng nói sai. Nhà tôi nghèo, ngày ấy mẹ đào đâu ra nhẫn vàng mà tặng anh (Tôi suýt bật cười vì sự "quên" đến lạ lùng của anh tôi). Cái suy luận về kỉ vật mà anh cả (tôi cố tình không nói tên bác cả, nên anh tôi cũng chỉ gọi là bác cả mà thôi) tặng cho anh ở rừng dẻ cũng làm tôi ái ngại về trí nhớ của anh tôi. Cháu V không kìm được vì lần đầu được gặp cậu nên đã quá vội vàng vừa khóc vừa giới thiệu: "Cậu ơi! cháu là Vcon mẹ Ng đây! cậu có nhớ mẹ Ng cháu không?". Anh tôi sẵng giọng: "Cậu biết rồi! Cậu chưa hỏi đến cháu, Cháu ngồi khóc từ đầu tới giờ sao mà cậu không biết! Tí nữa cậu sẽ hỏi đến cháu!". Sự khô cứng đến khó hiểu, sự lãnh đạm đến kỳ lạ ở anh tôi. Trước đây khi còn sống bên anh, tôi chưa bao giờ thấy anh tôi thô đến như vậy! Tôi hỏi anh về vết thương của anh nhưng anh không nói gì. Tôi hỏi anh có nằm trong số Hai mươi bảy chiến sĩ được tìm thấy trên đỉnh SẹcLy không thì anh bảo tôi hãy tìm đến nghĩa trang ĐăkTô tỉnh KonTum. Lần tìm đến mộ các liệt sĩ tên Thành, tên Thái rồi anh sẽ chỉnh mộ cho. Tôi gặng hỏi mãi về vết thương của anh để kiểm nghiệm xem cái tin đồng đội của anh nói có đúng không thì anh nói rằng: nói ra sẽ làm em đau lòng. Tôi hỏi lại nghĩa là anh có trong số hai mươi bảy người lính bị chôn sống đó. Anh tôi nói rằng đúng như vậy. Anh còn dặn cậu cháu tôi tìm kỹ trong hồ sơ của trung đoàn 66 sẽ thấy tên anh tôi: Hồ sơ mục nát lắm rồi, phải tìm thật kỹ mới thấy. Anh được tăng cường về Trung đoàn 66 cuối năm 1967, sau khi đánh căn cứ Đăk Trăm. Trung đoàn 66 thuộc đoàn 10 (Sư đoàn 10). Tìm trong hồ sơ Đoàn 10 hay tỉnh đội Kon Tum đều có cả. Anh tôi hỏi về cha mẹ tôi, hỏi về đất cát ông bà ở quê, hỏi về một số điều khác nữa. Tôi không muốn nhắc lại làm gì. Tôi cứ nghĩ rằng người đã về bên kia thế giới thì phải hiểu hết những gì đã, đang và sẽ diễn ra trên dương gian. Những người đã mất trong gia đình sẽ gặp nhau nơi chín suối. Vậy ra không phải là như thế. Anh tôi nói vẫn hay về nhà tôi thăm vợ chồng tôi. Vậy mà có biết bao điều đã sảy ra đối với gia đình tôi mà anh không hề biết (Cháu V thiếu bình tĩnh nên đã để lộ về sự ra đi của con trai tôi). Người thân duy nhất trong số anh chị em tôi mà anh tôi hỏi đến đó là: "Thế nào mẹ Ng cháu có khoẻ không?" còn bố cháu tên gì thì anh tôi cũng không nhắc tới mà chỉ hỏi: " Bố cháu có khoẻ không? ". Anh tôi hỏi tôi rằng: " Anh có một cái răng khểnh ở hàm trên, em có nhớ không? Anh chỉ nói một đặc điểm như thế của anh để em hiểu đúng là anh về gặp em chứ không phải là ai khác!". Thú thật tôi không thể nhớ được rằng răng hàm trên của anh tôi có chiếc nào bị khểnh không. Tôi chỉ nhớ rất rõ rằng răng anh tôi rất đều và trắng đẹp. Tất cả chỉ có vậy thôi. Anh tôi từ biệt cậu cháu tôi và đi về với các đồng chí đồng đội của anh. Trong tôi trào lên một sự cảm nhận đến lạ kỳ. Tôi không hiểu sự thật có phải là vong linh của anh trai tôi thật hay không!? Nếu đây đúng là anh trai tôi thì tại sao anh lại thay đổi đến kỳ lạ như vậy? Tại sao anh không chỉ thẳng cho tôi biết anh nằm ở ngôi mộ nào trong nghĩa trang ĐăkTô, tại sao anh tôi lại còn bắt cậu cháu tôi phải lên đó để mà kiếm tìm rồi mới chỉ cho? Tại sao anh tôi lại quên đi tất cả, quên tất cả những gì của quá khứ thuộc về gia đình, cha mẹ, anh em, nơi mà chúng tôi đã sinh ra và lớn lên? Còn nếu đấy không phải là anh tôi thì đấy là ai? Là vong linh của một người lính nào đó cảm thông trước nỗi đau của tôi mà nhận đại đi như vậy để giảm bớt nỗi đau cho tôi!? Vong linh của người lính đó có thể là một đồng đội của anh tôi. Vậy thì anh tôi ở đâu? Tại sao anh tôi không thấu hiểu nỗi đau của tôi để mà về gặp tôi? Còn nếu không phải là ai cả thì sao? Hay đây chỉ là một trò nói dối không có hại gì cho ai cả. Bởi vì thành công của việc kiếm tìm do nhà ngoại cảm chỉ có bốn mươi phần trăm. Sáu mươi phần trăm còn lại là do lòng tin của tôi mà có. Tôi tin là sự thật thì cả một trăm phần trăm đó sẽ là của tôi. Còn nếu như tôi không tin thì tôi chỉ có bốn mươi phần trăm của nhà ngoại cảm mà thôi. Tôi hình dung thấy bên trong những chiếc quan tài phủ cờ đỏ sao vàng đang rẽ ngang, rẽ dọc về khắp các làng quê trên mảnh đất hình chữ S này là những linh hồn của những lòng tin - lòng tin vào tài năng của các nhà ngoại cảm. Trên thế gian này, nếu ta đặt niềm tin vào một điều gì đó, một lượng tương đối nào đó của vật chất cũng như một khái niệm mơ hồ nào đó về một ý thức hệ tư tưởng, một chủ nghĩa gì đó do ai đó áp đặt ra theo ý muốn chủ quan của họ thì ta sẽ tự cảm giác được rằng đó là sự thật và ta hoàn toàn tin vào điều đó không chút nghi ngờ. Còn nếu ta suy luận một cách kỹ càng, một cách lô gic thì cái ảo giác sự thật trong ta sẽ tan biến đi! Và thực tế trên trái đất này có không ít chủ nghĩa đã bị sụp đổ rồi đó sao. Trong thế giới tâm linh này, ta lại càng không được phép nghi ngờ. Ta chỉ được phép tin vào sự nhiệm mầu thì ta sẽ được an ủi, sẽ được đền đáp. Hãy đừng nghĩ rằng ta bị lừa bịp. Bởi vì chính ta cũng đã tự lừa dối mình trước sự vô cảm của người đời bằng cách ta tự đưa ra lý lẽ để biện minh cho sự lừa lọc của đồng loại đối với ta. Ta cũng giống như mấy con cừu tự biện minh cho việc loài sói ăn thịt cừu là cái lẽ đương nhiên - lẽ ra sói phải ăn nhiều hơn nữa mới phải ! - là cái vốn có ở đời. Sự lừa dối ấy đối với ta như một cây gậy chỉ đường, còn ta


Thêm góp ý
(http://tenban.vnweblogs.com)
 authimage (Hãy nhập dãy số này vào ô bên cạnh)

    Tự giới thiệu

    My picture!
    Hoài Giang

    Đoàn Đức Chính
    Bút danh: Hoài Giang
    Sinh nhật : 15/3
    Nguyên là lính Tăng
    Tốt nghiệp ĐH Xây dựng
    Hiện sống tại
    TP Hạ Long-Quảng Ninh
    Đam mê viết & chụp ảnh

Danh sách bạn bè

HOÀI KHÁNH  DƯƠNG PHƯỢNG TOẠI  NGUYÊN HÙNG  ĐẶNG VĂN SINH  DƯƠNG HƯỚNG  Trương Thiếu Huyền 
View All Friends

Từ khóa quan trọng

Các góp ý gần đây

Xuất bản tin

Trạng thái của blog

Tổng số bài viết: 190
Tổng số góp ý: 1373
Tổng số trackbacks: 0
Tổng số lượt xem bài: 18.050
Copyright 2008: HoaiGianghl Blogger * Powered by vnWeblogs